Đôi khi, một cuộc hôn nhân không phải lúc nào cũng có thể đi đến cuối con đường. Nếu hôn nhân phải đối mặt với sự kết thúc không thể tránh khỏi, việc phân chia tài sản nhà đất khi ly hôn có thể rất khó khăn và bối rối.
Phân chia tài sản khi ly hôn tại Singapore
Khi thảo luận về việc phân chia tài sản nhà đất khi ly hôn tại Singapore, trước hết chúng ta cần làm rõ rằng, trong vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn, Singapore không có khái niệm tài sản chung của vợ chồng, và bên có lỗi trong vụ ly hôn cũng sẽ không vì thế mà nhận được ít tài sản hơn.
Tại Singapore, việc phân chia tài sản khi ly hôn dựa trên khái niệm Tài sản hôn nhân (Matrimonial Asset). Kết hôn không có nghĩa là tài sản riêng trước hôn nhân của mỗi bên sẽ trở thành tài sản chung, mà tất cả tài sản hôn nhân sẽ được phân chia lại khi ly hôn. Xin lưu ý: Tài sản hôn nhân sẽ được phân chia, chứ không có nghĩa là chia đều.
Mục lục
Tài sản hôn nhân là gì?
Theo Hiến chương Phụ nữ (Women’s Charter) của Singapore, tất cả tài sản trong hôn nhân bao gồm:
- Tài sản do một hoặc cả hai bên có được trong thời kỳ hôn nhân
- Tài sản được một hoặc cả hai bên hoặc con cái của họ sử dụng cho các mục đích khác nhau
- Tài sản có được trước khi kết hôn, nhưng đã tăng giá trị đáng kể trong thời kỳ hôn nhân
Điều đáng chú ý là những tài sản không được định nghĩa là tài sản hôn nhân bao gồm:
- Tài sản được tặng cho hoặc thừa kế
- Tài sản được tặng cho hoặc thừa kế không tăng giá trị đáng kể trong thời kỳ hôn nhân
Do đó, chúng ta có thể biết rằng tiền tiết kiệm, số tiền trong tài khoản CPF của vợ chồng, xe gia đình, cổ phiếu, bảo hiểm, doanh nghiệp đang kinh doanh và trang sức đều có thể là tài sản hôn nhân. Và nơi ở trong hôn nhân (tức là nơi ở mà vợ chồng và con cái cùng chung sống trong thời kỳ hôn nhân) là phần lớn nhất trong số đó.
Nếu nơi ở trong hôn nhân là một ngôi nhà do một bên vay mua trước hôn nhân, nhưng vẫn tiếp tục trả góp sau khi kết hôn, thì ngôi nhà đó thuộc về tài sản hôn nhân. Ngay cả khi một bên đã mua nhà bằng tiền mặt trước hôn nhân, nhưng được sử dụng làm nơi ở chung cho vợ chồng, thì nó cũng thuộc về tài sản hôn nhân.
Tài sản hôn nhân được phân chia như thế nào?
Như đã đề cập, tài sản hôn nhân chỉ được phân chia chứ không có nghĩa là chia đều. Thẩm phán sẽ xem xét mức độ đóng góp của cả hai bên vào tài sản hôn nhân khi thực hiện việc phân chia.
Mức độ đóng góp vào tài sản hôn nhân chủ yếu bao gồm các khía cạnh sau:
- Mức độ đóng góp tài chính của vợ chồng: Đóng góp tài chính của hai bên để có được, duy trì và làm tăng giá trị tài sản.
- Mức độ đóng góp phi tài chính của vợ chồng để duy trì phúc lợi gia đình: Bao gồm quản lý gia đình, chăm sóc bất kỳ người lớn tuổi hoặc thành viên nào trong gia đình. Sự hỗ trợ của cả hai vợ chồng để người kia có thể tiếp tục sự nghiệp của mình.
- Các khoản nợ chưa thanh toán: Các khoản nợ mà người nợ đã vay vì lợi ích chung của cả hai, lợi ích riêng của mỗi người, hoặc lợi ích của con cái.
- Nhu cầu của con cái: Sự chăm sóc và kiểm soát của cả hai vợ chồng đối với con cái.
- Bất kỳ điều khoản nào trong thỏa thuận tiền hôn nhân liên quan đến việc phân chia tài sản.
- Thời gian hôn nhân, mức sống mà gia đình đã có trước khi ly hôn.
- Sự độc lập tài chính sau khi ly hôn: Tòa án sẽ xem xét tuổi tác, khả năng thể chất và tinh thần, khả năng làm việc và trình độ học vấn của cả hai vợ chồng.
- Nhu cầu kinh tế của cả hai vợ chồng sau khi ly hôn.
Đối với bất động sản, thẩm phán sẽ xem xét ai đã trả tiền đặt cọc ban đầu cho ngôi nhà và ai đã trả các khoản vay sau đó (đóng góp tài chính); nếu người chồng chịu trách nhiệm trả tiền đặt cọc và các khoản vay cho ngôi nhà, nhưng người vợ chịu các chi phí sinh hoạt hàng ngày, thì đóng góp tài chính của người vợ cũng phải được xem xét; nếu là một người nội trợ không có thu nhập, việc quán xuyến nhà cửa, nuôi dạy con cái cũng được coi là đóng góp cho gia đình cần được xem xét.
Tuy nhiên, nói chung, đối với các cuộc hôn nhân kéo dài không quá mười năm, đóng góp cho gia đình về cơ bản không được xem xét, mà thay vào đó tuân theo nguyên tắc “phân chia theo thu nhập” để phân chia tài sản. Tiền cấp dưỡng không được áp dụng phổ biến trong các trường hợp thực tế. Nói cho cùng, Singapore khuyến khích phụ nữ độc lập và làm việc. Điều này không thân thiện như tưởng tượng đối với những người nội trợ.
Phân chia tài sản nhà đất khi ly hôn
Khi ly hôn, để phân chia rõ ràng tài sản nhà đất, người ta thường chọn bán nhà hoặc chuyển nhượng cho một bên. Ngoài việc phân chia tài chính, khi nơi ở trong hôn nhân là nhà ở công cộng HDB (HDB Flat), tình hình sẽ phức tạp hơn một chút. Thời gian cư trú tối thiểu (Minimum Occupation Period – MOP) đối với nhà ở công cộng HDB mua từ Cục Phát triển Nhà ở là năm năm. Nếu không đáp ứng được MOP, vợ chồng có thể bị yêu cầu trả lại căn hộ HDB cho Cục Phát triển Nhà ở (HDB) theo giá bồi thường tại thời điểm đó, đây sẽ là tình huống bất lợi nhất. Nếu tòa án ra lệnh bán căn hộ HDB, tòa án cũng sẽ quyết định cách phân chia số tiền thu được từ việc bán nhà dựa trên các tiêu chí về mức độ đóng góp vào tài sản hôn nhân đã nêu ở trên. Nếu tòa án xem xét chuyển quyền sở hữu cho một trong hai vợ chồng, người đó phải đủ điều kiện để sở hữu nhà HDB.
Chính sách “tách quyền sở hữu” (decoupling) của Singapore áp dụng cho mục đích chuyển nhượng quyền sở hữu bất động sản.
Vài năm trước, chính phủ Singapore đã đưa ra các biện pháp hạ nhiệt, áp dụng Thuế tem bổ sung cho người mua (Additional Buyer’s Stamp Duty – ABSD) đối với người mua nhà ở tư nhân. Nhiều chủ sở hữu chung của nhà ở tư nhân đã cố gắng để một bên hoàn toàn “tách” khỏi quyền sở hữu ngôi nhà, để khi mua căn nhà thứ hai trong tương lai sẽ không phải trả ABSD. Cách làm này rất có thể gây ra tranh chấp tài sản khi vợ chồng không may ly thân/ly hôn. Sau khi tách quyền sở hữu, một trong hai vợ chồng ban đầu có quyền đồng sở hữu chung (Joint Tenancy, mỗi người sở hữu 50% quyền sở hữu bất động sản) sẽ trở thành chủ sở hữu duy nhất của ngôi nhà. Người vợ/chồng bán phần sở hữu của mình trên thực tế không còn bất kỳ phần sở hữu nào đối với bất động sản đó. Nếu hai bên không may ly hôn, bên đã bán bất động sản cần phải đưa ra bằng chứng chứng minh rằng anh/cô ấy thực sự có quyền đối với một phần lợi ích từ bất động sản đó.
Những câu hỏi thường gặp về tài sản hôn nhân tại Singapore
Q: Sau khi ly hôn, nơi ở trong hôn nhân sẽ được phân chia như thế nào?
A: Nơi ở trong hôn nhân (nhà ở tư nhân hoặc nhà HDB) nếu là một phần của tài sản hôn nhân, tòa án phải phân chia một cách công bằng giữa các bên.
Q: Nhà thừa kế có phải là tài sản hôn nhân ở Singapore không?
A: Không. Tòa án sẽ loại trừ tài sản thừa kế hoặc được tặng cho khỏi việc phân chia tài sản.
Q: Khi ly hôn, người vợ có được một nửa không?
A: Không. Cả hai vợ chồng sẽ không tự động nhận được 50% tài sản hôn nhân. Tòa án sẽ áp dụng một phương pháp có cấu trúc dựa trên đóng góp tài chính/phi tài chính trực tiếp/gián tiếp để phân chia tài sản.
Q: Khi ly hôn, những tài sản nào không thể phân chia?
A: Tòa án sẽ loại trừ những trường hợp sau đây khỏi việc phân chia tài sản hôn nhân:
- Tặng cho và thừa kế
- Tài sản trước hôn nhân
- Thỏa thuận trước hoặc sau hôn nhân
Để biết thêm thông tin hoặc được tư vấn, vui lòng liên hệ với chúng tôi:
WeChat: sgleokwek
Telegram: sgleokwek
WhatsApp: Nhắn tin cho chúng tôi
